Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Tôm chua, cá hồ nướng, thịt lợn gác bếp, chuối rừng… là những đặc sản hấp dẫn tại hồ Ba Bể đối với đa số du khách.

Ở độ cao khoảng 145 m so với mặt nước biển, Ba Bể là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Việt Nam thuộc xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Nơi đây là điểm dừng chân thú vị cho du khách khi muốn tránh xa cuộc sống ồn ào chốn thị thành để trải lòng cùng thiên nhiên hoang sơ, mênh mông và huyền ảo.

Ngoài những phút giây thư giãn cùng cảnh vật khi du thuyền trên mặt hồ, du khách còn có thể nghỉ tại bản Pác Ngòi để hiểu hơn về đặc trưng văn hóa người Tày sống ở ven hồ, cũng như thưởng thức món ăn mang đậm phong vị địa phương trên núi.

Cá nướng
Cá hồ nướng ở Ba Bể là món ăn khoái khẩu của nhiều du khách bởi mùi không tanh, tuy bé bằng ngón tay nhưng hương vị lại thơm nồng hấp dẫn, có thể ăn cả thịt, xương lẫn đầu. Sau khi rửa sạch, cá được mổ sơ để vứt bỏ mật và ruột, sau đó dùng thanh tre kẹp chặt, nướng trên than củi chừng 15 phút, chờ chuyển sang màu vàng ruộm là có thể dùng được.
Tôm chua


Tôm chua
Ở Ba Bể, người dân thường ăn tôm chua với thịt chân giò hoặc ba chỉ luộc kèm đĩa khế chua, chuối xanh, đinh lăng… Giữa khung cảnh thiên nhiên nên thơ, nhấm nháp tôm chua cùng chén rượu ngô cay nho nhỏ, du khách sẽ có cảm giác lâng lâng êm ái, thấm thía vị béo chua chua của thịt, cảm nhận phần tỏi ớt cay cay cùng mùi thơm riềng...

Món ăn được bán khá nhiều ở các bản Bó Lù, Pác Ngòi… Ngoài tôm, các loại tép hay cá nhỏ được bắt tươi ở hồ, ăn không hết, người dân cũng muối vào lọ, để ăn dần.

Chuối hột rừng

Chuối hột rừng
Chuối hột hồ Ba Bể được bán nhiều ở đường lên ao Tiên, khu vực đón khách từ cổng vào xuống hồ... Vì trồng trên những quả núi quanh hồ nên thân chuối vươn cao, quả căng tròn trông rất hấp dẫn, vừa tạo cảnh quan đẹp lại dùng để làm thuốc và quà biếu.

 


Rau dớn
Là một loại rau rừng, mọc nhiều ở những nơi ẩm ướt gần khe đá, dễ tìm và còn giúp chữa bệnh nên rau dớn được người dân rất ưa chuộng. Thực phẩm này vốn nhanh héo nên ngay khi mới hái về thường được chế biến nhanh chóng để tránh dập nát và vẫn giữ độ tươi ngon.
Thịt lợn gác bếpThịt lợn gác bếp
Khác với một số dân tộc khác, người Tày sống quanh hồ Ba Bể thường bỏ thịt vào sọt hoặc gùi đi rừng rồi mới treo lên bếp. Khói từ bếp củi hằng ngày hun lên làm thịt có màu vàng đen.

Thịt treo như vậy để được cả năm mà không hỏng. Ngày nay, dù không phải tích trữ thịt treo gác bếp làm lương thực để dành nhưng trong nhà người Tày ở quanh hồ vẫn luôn có một ít, dùng trong những dịp đón khách quý, lễ tết hay ngày quan trọng khác.
Xôi nếp nương
Từ những hạt gạo nếp nương căng tròn, người dân ngâm trong nhiều giờ trước khi đưa vào chõ gỗ, đồ chín bằng hơi. Hạt gạo sau đó mềm dẻo và không dính tay, khi ăn thấy vị nếp thơm khác biệt, ít ngấy
 Ẩm thực
Cuộc sống của người Tày thường gắn bó với thiên nhiên, do đó, nguồn lương thực, thực phẩm chính của người Tày là những sản phẩm thu được từ hoạt động sản xuất ở vùng có rừng, sông, suối, đồi núi bao quanh.
Đó là thóc, gạo, ngô, khoai, sắn, đậu, đỗ cùng các loại rau quả do trồng trọt trong vườn hoặc hái lượm trong rừng, các loại thuỷ sản như cá, tôm, cua do nuôi thả và đánh bắt ở sông suối, các loại gia súc, gia cầm như trâu, bò, gà, vịt hoặc chim, thú săn bắt ở trong rừng. Thường ngày, người Tày ăn hai bữa: bữa trưa và bữa tối. Cơm hàng ngày là cơm gạo tẻ. Trong mỗi bữa ăn, phổ biến nhất là rau. Cơm để trong nồi, thức ăn bày ra mâm gỗ hay mâm đan, mâm mây. Khi ăn, các thành viên trong gia đình ngồi quanh mâm, trong đó mẹ hay chị em gái thường ngồi ở đầu nồi xới cơm cho cả nhà. Khi có khách thì chủ nhà ăn cơm với khách còn cả nhà ăn cơm riêng.
Món ăn của người Tày
Cơm tẻ:  Cơm là món ăn chính hàng ngày của người Tày. Đổ gạo tẻ vào nồi nấu cùng với nước. Khi nước cạn đem vần nồi cạnh bếp cho đến khi chín.                                      
Xôi: Là món ăn đặc trưng của người Tày. Gạo nếp đồ trong chõ thành xôi. Người Tày thường ăn xôi trắng. Ngoài ra, người Tày còn một số loại xôi khác như: xôi màu, xôi rau ngót rừng, xôi trứng kiến... 
 
Xôi màu
Xôi màu: Gạo nếp được nhuộm thành các màu xanh, đỏ, tím, đen rồi trộng các lọai với nhau thành gạo nhiều màu. Gạo được nhuộm từ nhiều loại lá cây khác nhau như màu tím nhuộm từ lá “cẳm", màu vàng từ hoa “phón” .
Xôi rau ngót rừng: Đồ xôi, bỏ rau ngót thái nhỏ lên miệng khi chín, đổ xôi và rau ngót ra trộn đều, cho thêm gia vị, hành và mỡ.
Xôi trứng kiến: Đồ xôi lẫn với trứng kiến đen lấy từ tổ kiến.
Cơm lam: Là món ăn đặc trưng của người Tày. Trước tiên, người ta ngâm gạo nếp rồi cho vào ống tre non cùng một ít nước, đậy nút kín rồi đem nướng trên lửa hoặc đồ lên cho chín. Để ống tre nguội, bóc vỏ ống để lại lượt áo mỏng bao quanh cơm. Khi ăn, dùng dao xắt thành từng khúc nhỏ.
 
Cá nướng và cá sấy
Cá nướng và cá sấy: Là cách chế biến thường thấy nhất ở người Tày. Cá làm sạch rồi xiên vào que nướng trên lửa. Khi chín, gỡ thịt cá ra chấm với nước chấm. Khi có nhiều cá thì người ta đem sấykhô trên giàn bếp để ăn dần.
Mắm cá và cá chua: Mắm cá chủ yếu làm từ cá nhỏ Mắm cá chủ yếu làm từ cá nhỏ. Cá ướp chua trong vại với thính, rượu để gâymen chua. Cá chua dùng để ăn lâu dài, có thể ăn sống hay nướng, rán.
Thịt lợn tái: Thịt lợn nạc thái mỏng trộn ít muối, vắt chanh vừa đủ cho thịt tái. Món này thường dùng để nhắm rượu.
Thịt gà giò nấu canh gừng, nghệ: Món canh này những người già rất thích ăn vì mềm, bổ và mát.
Canh xinh thang: Thịt nạc băm nhỏ cho vào nước trong, thêm gia vị.
Bánh chưng: đồ lên sẽ được xôi nhiều màu. Nguyên liệu chính để làm bánh là gạo nếp, nhân bánh làm bằng đậu, thịt, hành hoặc lạc. Gạo nếp vo đãi sạch sau đó hoặc bằng lá dong hay lá chuối rồi đem luộc chín. Bánh ăn trong dịp Tết Nguyên đán và tiết xuân.
Bánh dày: Thường làm vào dịp lễ hội, cưới xin. Bánh to, tròn (sì pưởng) thường làm để biếu, bánh nhỏ, trò (sì ăn) làm để nhà ăn hay cúng. Bánh có thể có nhân hoặc không. Nhân bánh làm bằng đậu, lạc, vừng, đường. Có loại bánh được nhuộm đỏ có loại vẽ lên trên bề mặt hình hoa văn bằng phẩm đỏ, vàng. Có loại lại làm bằng bột gạo và lá ngải (pẻng nhả ngài) để ăn vào Tết Thanh minh.

Bánh trôi: Làm vào dịp Tết Đông chí. Bánh làm bằng bột gạo nếp, có thêm gừng, đường phèn. Ăn thơm và ấm.

Pẻng khô, pẻng khoai: Xôi nếp đồ lên trộn với khoai sọ đã luộc chín rồi đem giã và nặn thành từng thanh nhỏ, phơi khô. Khi ăn đem chao trong mỡ hoặc dầu cho bánh nở phồng và giòn, vớt ra nhúng vào nước mật đun sôi, lấy ra để nguội là được.

Một số đồ uống của người Tày      

Thường ngày, người Tày uống nước đun sôi với lá hoặc vỏ cây rừng. Nhưng khi đi rừng, lên nương, người dân thường uống nước khe, nước suối.

Rượu cũng là đồ uống phổ biến của dân tộc Tày, nhưng khác với người Thái và người Mường, người Tày không làm cần mà nấu rượu bằng gạo, sắn, ngô, mật mía.Rượu nếp ủ trong hũ dùng trong dịp 14 tháng 7 âm lịch. Trong các dịp hội, hè lễ tết hợc tiếp khách, người Tày đều phải mời rượu, có khi chỉ là rượu suông.
 
Món tôm chuaMón tôm chua "thứ thiệt"
Từ lâu, cư dân Tày đã biết chế biến món tôm chua, cá chua. Trước đây khi tôm, cá còn nhiều, việc đánh bắt dễ dàng nên ngoài việc làm đồ ăn hàng ngày như luộc, rán, nướng… người dân đã biết chế biến ra món ăn có hương vị rất riêng đó là món tôm chua, cá chua. Những khúc cá to và tôm được trộn mẻ, bột thính, giềng và các gia vị đặc biệt khác rồi bịt kín lại đem ủ, sau một thời gian người dân lấy ra nấu ăn. Tôm cá lúc này ăn rất thơm, mềm có vị chua ngọt riêng.
Hương vị tôm chua Ba Bể cực kì độc đáo sẽ khiến du khách phải xuýt xoa.
Điều đặc biệt ở món cá chua Ba Bể là do ủ lâu nên ngay cả xương cá cũng rất mềm. Vì vậy, khi sử dụng cá chua cho việc nên khi nấu ăn người ta có thể ăn cả xương và thịt không phải bỏ thứ gì. Ngày nay, nghề làm tôm chua, cá chua đang có xu hướng phát triển ở vùng hồ Ba Bể. Dọc theo các triền sông, suối người dân lấy tôm, cá về chế biến. Phải là tôm sông, cá sông mới cho hương vị đậm đà, riêng biệt với các vùng quê khác.
Phải là tôm, cá sông mới cho tôm, cá chua Ba Bể hương vị độc đáo và thơm ngon đặc trưng.

Khi đánh bắt được các mẻ tôm sông, cá sông, người dân lựa chọn những con còn nguyên vẹn, đều nhau, cá thì cắt khúc rồi làm theo quy trình trên và ủ kín. Sau một thời gian, khi tôm cá đã ngấm đủ gia vị, lên men, bỏ tôm chua, cá chua từ hũ ra, chắc hẳn không ai quên được hương vị đậm đà, mùi thơm của giềng, ngọt mềm chua dìu dịu, ăn cùng với cơm nấu bằng gạo nương thì người khó tính nhất cũng phải gật gù và thốt lên ăn không biết chán.

Vị tôm chua Ba Bề vẫn còn giữ nguyên hương vị tôm, quyện với mùi giềng, ớt và các gia vị đặc trưng khác.
Thường thì, người ta chưng tôm chua, cá chua lên với thịt băm và trộn thêm giềng giã nhỏ nhưng nên nhớ rằng, nếu cho nhiều thịt băm và giềng sẽ mất đi hương vị riêng của tôm chua, cá chua vùng hồ Ba Bể. Tôm chua có thể ăn cùng với các loại rau sống, thịt luộc, rau rừng… kích thích vị giác cho người ăn thêm ngon miệng. Khác với tôm chua vùng biển hay xứ Huế với vị ngọt gắt của đường, chua cay nồng nàn của ớt giềng, tôm chua, cá chua vùng hồ Ba Bể cũng vị ngọt, chua, cay nhưng lại tự nhiên, hương vị ngọt dìu dịu, chua thanh, hơi cay cay nhưng lại rất đậm đà, riêng biệt.

Tôm chua, tuyệt vời nhất là ăn kèm với thịt lợn luộc và rau sống.

Hiện nay, cứ 5 ngày có một phiên chợ bày bán tôm chua tại chợ Khang Ninh, trên đường vào hồ Ba Bể. Người ta thường ăn tôm chua với thịt ba chỉ luộc thái mỏng, kèm khế chua, chuối chát, nem thính tai heo,rau sống, rau rừng… Giữa khung cảnh thiên nhiên, non xanh nước biếc của Ba Bể, nhấm miếng tôm chua, uống vài chén rượu, du khách sẽ cảm nhận được hương vị đậm đà của thịt ba chỉ, vị cay nồng, lừng lựng của tỏi ớt, vị thơm của giềng, hòa chung với vị ngọt dịu, thấm đẫm của tôm chua thật vô cùng hấp dẫn.
 Bánh ngải

"Bánh ngải, vừa là đặc sản vừa là thuốc"
Chiếc bánh mà người Tày luôn luôn tự hào bao đời nay, thường được đặt ở vị trí trang trọng nhất là chiếc bánh màu xanh thẫm, đậm đà hương vị núi rừng, mang theo linh hồn cây lá và màu biêng biếc của sóng nước Ba Bể. Đây cũng là loại bánh được làm từ vị thuốc đông y vô cùng quý, ngải cứu.

 Bánh ngải
Chiếc bánh mang màu xanh biếc này là đặc trưng cho văn hóa người Tày ở Ba Bể, Bắc Cạn.

Làm bánh ngải không khó nhưng lại đòi hỏi sự công phu và khéo léo từ khâu chọn gạo, đường, rau ngải cho đến khâu giã bánh. Bánh ngải kén gạo vì thế không phải loại gạo bất kỳ nào cũng làm được bánh. Muốn bánh thơm, dẻo phải chọn loại nếp nương và không được lẫn dù chỉ một hạt gạo tẻ. Đường để làm nhân bánh cũng phải lựa chọn rất cẩn thận, phải chọn đường phên (một loại đường thỏi, miếng to chừng bàn tay) có màu vàng, ngọt và không có sạn.

Để làm được bánh ngải thơm ngon, người làm bánh phải thật kĩ càng từ khâu chọn nguyên liệu.

Lá ngải được rửa sạch, đun trong nước tro bếp từ 2 đến 3 giờ. Để có nước tro tốt, người ta chọn tro sạch, tốt nhất là tro tre nứa, hoặc tro vỏ đậu xanh. Tro sạch được lèn vào rá tre, để rá trên chậu tạo khoảng cách cho nước từ rá chảy xuống. Người ta đổ nước từ từ vào tro cho ngấm dần rồi chảy xuống chậu. Nước tro lúc đầu đặc có màu cà phê, sau loãng dần. Lá ngải đun trong nước tro rất chóng nhừ. Sau khi đun nhừ, đổ lá ngải ra rá, rửa nhiều lần cho sạch nước tro, nhặt bỏ sơ (gân lá, cuống lá già), vắt kiệt nước rồi nắm thành từng nắm bằng nắm tay.

Lá ngải xanh mơn mởn chính là một nguyên liệu không thể thiếu để tạo ra hương vị và màu sắc chiếc bánh ngải của người Tày.

Gạo làm bánh được ngâm từ tối hôm trước rồi đem đồ chín thành xôi vừa độ dẻo. Trong quá trình đồ, khi lên hơi, người ta thường tưới thêm lần nước để khi giã bánh sẽ dẻo hơn. Trong quá trình chờ xôi chín, người làm bánh sẽ chuẩn bị nhân bánh, người ta đun đường phên lên thành mật sau đó trộn mật với vừng đen rang chín giã nhỏ. Nhân bánh chính là bí quyết tạo ra hương vị thơm ngon cho chiếc bánh.

Xôi đồ chín phải giã ngay lúc còn nóng cùng với những nắm lá ngải để bánh mềm, mịn và dẻo. Sau khi xôi được giã nhuyễn, các bà, các mẹ sẽ nhanh tay múc ra mâm để nặn bánh. Bánh được nặn thành hình tròn sau đó ấn dẹt ra, cho thìa nhân vào giữa, rồi gói vỏ bánh lại bọc kín lớp nhân bên trong thành hình như chiếc bánh dày là được. Cố gắng khéo léo để nhân không bị trào ra ngoài vỏ bánh. Mỗi chiếc bánh nóng hổi được đặt trên một khoanh lá chuối tròn nhỏ bằng chiếc bánh để chúng không dính vào nhau. Sau đó gói chung khoảng 10 cái bánh nhỏ vào một lớp lá chuối để giữ bánh được lâu hơn.
 
Để bảo quản những chiếc bánh dẻo ngọt này, người ta thường bao chúng bằng lá chuối.
Bánh ngải là thứ bánh rất dễ ăn, mát và không ngấy, nếu ai đã từng ăn một lần sẽ không quên mùi vị của loại bánh dân dã này. Vị hăng hăng, thơm thơm là lạ của lá ngải như dung hòa cái dẻo, cái ngọt của nếp, của đường. Miếng bánh có sự tươi non của đồi nương, cái hoang dã của lá rừng, ăn vào tựa như gói cả mùa xuân trong miệng vậy.

Trên đây mới chỉ là hai trong rất nhiều món ăn ngon, độc đáo của người Tày trên mảnh đất sông núi hữu tình này. Đến đây, quý khách cũng có thể lựa chọn những "thực đơn" hấp dẫn với tôm chua, gà đồi nướng, cá nướng hồ Ba Bể, xôi nếp nương... chắc chắn các du khách phải ghé qua, mua vài thứ quà ngon mà đậm đà chất dân tộc về làm quà. Cùng với dân tộc Tày, những dân tộc ít người sống quanh hồ Ba Bể đang góp phần tạo nên nét văn hóa, nhất là văn hóa ẩm thực sông nước Tây Bắc.

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015

Pác Ngòi là một thôn thuộc xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Trong thôn hiện còn lưu giữ được 36 ngôi nhà sàn, trong đó có 20 nhà sàn cổ.
      
Pác Ngòi
Hiện nay, những nếp nhà sàn truyền thống, những di sản văn hóa đặc sắc không chỉ được chính người dân địa phương có ý thức bảo tồn, giữ gìn mà trong thời gian gần đây, từ các Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Kạn đã xây dựng và triển khai thực hiện “Dự án bảo tồn và phát triển Làng văn hóa truyền thống bản Pác Ngòi”. Thông qua dự án, bản Pác Ngòi đã và đang được đầu tư, cải tạo, xây dựng các tiểu dự án nhỏ nhằm tiếp tục bảo tồn giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể địa phương, cụ thể như: Xây dựng Nhà Văn hóa cộng đồng, đầu tư các trang thiết bị cho Nhà Văn hóa cộng đồng, bảo tồn cảnh quan môi trường sinh thái, hỗ trợ tôn tạo các nhà sàn cổ…
     
Pác Ngòi còn được biết đến với nghề dệt thổ cẩm truyền thống, bà La Thị Mạc - người đã có gần 40 năm gắn bó với nghề dệt trong bản cho biết: Nghề dệt thổ cẩm truyền thống cổ xưa của người Tày thường dùng nhiều loại khung dệt khác nhau, nhưng khung dệt phổ biến nhất ở Pác Ngòi là loại khung gỗ có chiều dài 2m, rộng 0,8m. Khi sử dụng phải kết hợp cả hai tay, hai chân. Loại khung này chủ yếu dệt được vải có khổ hẹp (chiều khung ngang từ 40cm đến 50cm), nhưng chiều dài có thể lên tới bao nhiêu cũng được. Tuy nhiên, để dệt được một tấm thổ cẩm may áo, khăn, địu… rất công phu. Trước hết người thợ phải lấy cây tràm về, chặt ra rồi ủ với nước vôi khoảng 1 tuần, sau đó lọc lấy nước để nhuộm.
 

Pác Ngòi 1
Hiện thôn có 70 hộ, với 380 nhân khẩu, chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp, chài lưới và là một trong những thôn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Tày. Để đưa Pác Ngòi từ một làng thuần nông, văn hóa truyền thống đang bị mai một trở thành thôn văn hóa, du lịch điển hình, năm 2005, tỉnh Bắc Kạn đã đầu tư hơn 6,3 tỷ đồng thực hiện dự án bảo tồn nét đẹp văn hóa truyền thống độc đáo của người 48 triệu đồng để tu bổ lại. Không dấu được niềm vui sau khi ngôi nhà sửa xong, ông Hợp, một người dân trong bản cho biết: “Trước đây gia đình luôn lo lắng và băn khoăn, mái nhà thì dột, cột bị mọt, hư hỏng, mỗi trận mưa cả nhà lại phải căng bạt và lấy chậu hứng nước, mà sửa lại thì không lấy đâu ra tiền. Gia đình nhiều khi bane khoăng lắm, nhiều lúc tôi định bán nhà đi cho những dân chơi nhà cổ ở nơi khác để lấy tiền xây lại ngôi nhà bằng gạch vữa, nhưng lại tiếc vì ngôi nhà là kỷ niệm và niềm tự hào của mọi người trong gia đình”.
 

Song song với việc tu bổ lại những ngôi nhà cổ xuống cấp, dự án còn quy hoạch vùng trồng cây bông, chàm; tổ chức các lớp truyền nghề dệt; hỗ trợ người dân mua khung dệt... Cũng nhờ đó, nghề dệt đang phục hồi dần, nhiều mẫu mã mới đã được người dân sáng tạo để đáp ứng nhu cầu khách hàng. để bảo tồn vốn văn nghệ dân gian của dân tộc và phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân cũng như sẵn sàng phục vụ khách du lịch, Pác Ngòi đã thành lập ra một đội văn nghệ, do nghệ nhân Triệu Văn Thư, là người giỏi về hát then, chơi các nhạc cụ như: sáo, khèn làm tổ trưởng. Đội văn nghệ ngoài phục vụ làng mỗi khi có việc, còn tổ chức phục vụ khách du lịch thăm quan hồ Ba Bể, với kinh phí 300 nghìn đồng/lần biểu diễn. Ông Hứa Văn Canh, trưởng thôn Pác Ngòi cho biết: “Là một trong những thôn của tỉnh có dự án xây dựng thành công Làng văn hóa. Theo dự án này bên cạnh việc giữ gìn những phong tục tập quán tốt đẹp thì sẽ khôi phục và phát huy các nghề truyền thống đậm bản sắc dân tộc như: đóng thuyền độc mộc, đan chài lưới, dệt thổ cẩm, nấu rượu v.v… Mặt khác các hạng mục cơ sở hạ tầng của thôn Pác Ngòi cũng được xây dựng khang trang, kiên cố. Trước hết là con đường trải nhựa chạy xuyên suôt toàn thôn và Nhà Văn hóa thôn với kinh phí đầu tư trên 1 tỷ đồng. Vừa qua thôn đã làm lễ khánh thành Nhà Văn hóa rất vui, hiện nay Nhà Văn hóa đã trở thành nơi diễn ra các hoạt động, sinh hoạt VHVN. Nhà nước cũng hỗ trợ người dân làm nhà vệ sinh theo tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh môi trường”.
       
 Hiện nay các gia đình trong thôn hầu như đều có nghề phụ làm thêm như: nấu rượu, dệt thổ cẩm, buôn bán dịch vụ, trong thôn  không còn hộ đói nghèo, không có đối tượng vi phạm tệ nạn xã hội.  Đặc biệt hiện tượng trộm cắp vặt trước đây đã bị xóa bỏ. Các gia đình sống đùm bọc, yêu thương, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn. Dân bản biết chia xẻ công việc khi có việc vui, cũng như việc buồn, việc cưới, việc tang v.v…Đây là những điều đáng quý nhất ở dân bản Pác Ngòi. Hiện nay, thôn đã thành lập một đội văn nghệ với 12 diễn viên là những nam, nữ thanh niên say mê các điệu múa, câu hát của dân tộc mình do nghệ nhân Triệu Văn Thư làm đội trưởng. ông Thư là một người rất giỏi về các loại nhạc cụ dân tộc như: kèn, sáo, nhị, đàn tính hát then và đặc biệt là rất nhiệt tình trong các công việc của bản cũng như công việc của đội văn nghệ. Mỗi khi bản có nhu cầu biểu diễn vào những dịp lễ, Tết , ngày kỷ niệm, hoặc đón khách về làm việc, tham quan tại bản, đội văn nghệ lại biểu diễn phục vụ người xem. Bí thư chi đoàn thanh niên của bản là Triệu Thị Thảo, dân tộc Tày và là một thành viên trong đội văn nghệ đã nói với các nhà báo đến thăm quan bản:” Em là người được sinh ra và lớn lên tại bản Pác Ngòi này. Em rất yêu và tự hào về quê hương của mình. Chính ở nơi này mẹ em đã ru em bằng những câu dân ca của quê hương. Những điệu múa chầu, những điệu hát then đã ngấm vào tâm hồn em từ nhỏ. Vì vậy được tham gia đội văn nghệ của bản em rất phấn khởi. Em sẽ cùng với đội văn nghệ của bản sẽ làm cho du khách thấy được vẻ đẹp trong từng điệu then câu hát của dân tộc Tày ở vùng Ba Bể quê hương thân yêu”.Cũng do nhu cầu của du khách khắp nơi muốn đên thăm chiêm ngưỡng Vườn quốc gia Ba Bể ngày một nhiều. Họ cũng muốn nghỉ ngơi, vui chơi tại đây và tìm hiểu thêm về đời sống, phong tục tập quán của các dân tộc. Vài năm gần đây, dân bản Pác Ngòi được sự hướng dẫn của xã đã biết cách phục vụ khách du lịch khi họ đến thăm. Hiện trong bản có 6 gia đình đã tu sửa lại nhà cửa cho sạch đẹp, có đầy đủ tiện nghi để có thể phục vụ khách nghỉ trọ qua đêm. đến với Vườn quốc gia Ba Bể, bạn sẽ luôn được đón tiếp chu đáo, cởi mở và hài lòng.đến Pác Ngòi hôm nay, được đắm mình trong không gian yên bình, kỳ vĩ, được thưởng thức những món ăn dân dã của đồng bào dân tộc Tày nơi đây, và chèo thuyền thưởng ngoạn cảnh đẹp hồ Ba Bể, đó quả thật là kỳ nghỉ vô cùng hấp dẫn.
 Khu du lịch Vườn quốc gia Ba Bể là nơi có tiềm năng du lịch sinh thái, văn hóa lớn mạnh và có ý nghĩa trong tiểu vùng du lịch miền núi Đông Bắc. Đến với khu du lịch Ba Bể, chúng ta không chỉ được ngắm vẻ đẹp thơ mộng của hồ trên núi, mà còn được tham quan, thưởng thức hơn 20 điểm di tích danh thắng đặc sắc, độc đáo, là những tuyệt tác thiên nhiên hấp dẫn bởi một hệ thống hang động và những suối ngầm. Trong đó tiêu biểu là những điểm du lịch:

Động Puông 

Động Puông Động Puông là một thắng cảnh thuộc khu vực Vườn quốc gia Ba Bể, nằm trên dòng sông Năng thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm thị trấn Chợ Rã khoảng 5km. Động Puông được hình thành khi con sông Năng chảy xuyên qua bên dưới núi đá vôi Lũng Nham, là điểm du lịch sinh thái đặc biệt, độc đáo và rất hấp dẫn.

Động dài 300m và cao hơn 30m, hấp dẫn du khách bởi các vách đá đứng và những khối thạch nhũ có hình thù kỳ lạ, màu sắc khác nhau. Động Puông còn là nơi cư trú của các loài động vật sống về đêm. Điển hình là 18 loài dơi với số lượng lên tới hàng nghìn con, chiếm phần lớn số loài dơi tìm thấy ở Vườn quốc gia Ba Bể. Chúng thường hoạt động nhiều nhất vào lúc chạng vạng tối và rạng sáng.

Trên đỉnh núi Lung Nham - nóc động Puông còn có chiến lũy và giếng nước nhà Mạc. Vì vậy, động Puông vừa là di tích lịch sử vừa là danh lam thắng cảnh đẹp, hấp dẫn không thể bỏ qua khi du khách đến thăm quan Vườn quốc gia Ba Bể.

Đảo An Mã

Đảo An Mã là một đảo đá vôi nhô cao 27 - 30m so với mặt hồ, trên đảo có đền vua Thủy Tề và các di tích đời nhà Lê. Đây là điểm thăm quan lý thú và rất thuận tiện để quan sát chim thú, cảnh quan vùng hồ.

Thác Đầu Đẳng

Thác là nơi có dòng sông Năng tiếp giáp với tỉnh Tuyên Quang, có chiều dài khoảng 2km, là nơi con sông Năng bị chặn lại bởi những tảng đá lớn nhỏ xếp chồng lên nhau với độ dốc chừng 500m, tạo thành một thác nước ngoạn mục kỳ vỹ hòa với phong cảnh rừng nguyên sinh ấn tượng. Không những vậy, tại đây còn xuất hiện loại cá Chiên (có những con nặng trên 10kg) là loại cá hiếm có hiện nay.

Ao Tiên
Ao TiênAo tiên là một cảnh quan rất đẹp nằm ở phía Bắc hồ Ba Bể, cách mép hồ 120m với diện tích 4,5ha giữa một vùng núi đá và có thảm thực vật với tính đa dạng sinh học cao. Du khách đến Ao Tiên sẽ có cảm giác rất thoải mái và dễ chịu toát ra từ sự yên tĩnh của hồ.

Nằm trên đường từ hồ tới Ao Tiên là Động Tiên cao 15m, rộng 35m với những nếp đá xếp thành tầng nhìn về phía Nam. Trong động có nhiều thạch nhũ và một ngách sâu đi về phía Bắc. Động Tiên cùng với Ao tiên tạo thành một sinh cảnh nguyên sơ, tĩnh lặng. Đây được coi là một điểm tham quan lý tưởng cho những du khách yêu thiên nhiên.

 Động Hua Mạ

 Đến tham quan thắng cảnh hồ Ba Bể du khách sẽ không thể không ghé thăm động Hua Mạ, đây là một hang động tuyệt vời cho khách du lịch trong và ngoài nước.

Động nằm cách hồ Ba Bể 6.000m về phía Tây Nam, thuộc khu vực xã Quảng Khê. Động còn được gọi là động Treo bởi hang động nằm ở lưng chừng núi có độ cao so với mặt nước biển là 350m, có chiều dài hơn 700m, trần động có chỗ rộng và cao tới 40 - 50m, động có cửa vào ở phía Đông và thông ra ở phía Nam.

Động Hua Mạ được người dân biết đến từ rất lâu đời qua câu chuyện truyền thuyết kể lại: Một lần, nhà Vua vi hành gần khu vực động, ngựa không thể qua được suối. Nhà vua bèn xuống ngự hỏi bà con dân bản thì được biết đây là khu vực “Lèo Pjèn” (có nghĩa là nơi ma thiêng nước độc). Nhiều người dân lương thiện đã bị giặc giết ở đây. Nghe kể vậy, nhà Vua đã lập chùa cầu siêu. Ngày nay, người dân thường gọi là động Hua Mạ (có nghĩa là đầu ngựa).

Động với phong cảnh tuyệt vời và hấp dẫn của những nhũ đá màu trắng, đen, ánh lên với những sắc màu lung linh đa dạng và huyền ảo bao trùm khắp cả hang động. Đặc biệt, lòng hang rất rộng (khoảng 1ha), vòm hang cao khoảng 10m, chiều sâu 500m, tạo ra một không gian thoáng mát, không khí trong lành và mát mẻ.

Động Ba Cửa

Động Ba Cửa cách mặt hồ Ba Bể 20m. Cửa hang quay về phía Tây, cách bến phà Bắc 1,2km, có 3 cửa hình tròn, đường kính từ 2 - 3m. Trong động có một phòng rộng 100m với nhiều thạch nhũ xếp thành tầng và một ngách dài 70m đưa tới vách hồ. Từ trên động ta có thể nhìn thấy bản Pác Ngòi của người Tày và đảo Bà Goá.

Động Thẳm Kít

Động Thẳm Kít (hang Sơn Dương) nằm gần con đường mòn nối bến phà Bắc với bản Pác Ngòi. Động nằm trên độ cao 200m, cửa hang cao từ 10 - 20m, rộng 50 - 60m. Trong động có nhiều loại thạch nhũ (loại rủ, hình măng) và lớp vách núi đá tạo nên một khung cảnh rất đẹp, đặc biệt là khi có ánh đèn chiếu vào.

Động Nả Phòng

Động Nả Phoòng nằm gần bến đò Nam và cách thôn Bó Lù khoảng 2km, ở độ cao 200m so với mực nước biển. Động được hình thành do một con suối chảy từ xã Nam Cường huyện Chợ Đồn tạo nên một vòm cửa động hình cầu cao cao từ 80 - 90m và rộng từ 100 - 120m nhìn về phía bắc. Động còn là nơi Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam đóng trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp.

Đảo Bà Góa

Đảo Bà Góa

Đảo Bà Góa gắn liền với truyền thuyết về hồ Ba Bể. Trên đảo có bia đá khắc năm Khải Định thứ 9. Đây là hòn đảo khá lớn với khu hệ thực vật phong phú như một điểm nhấn cho vẻ đẹp tự nhiên của hồ.
Sự tích hồ Ba BểNgày xưa, ở vùng Bắc cạn, mỗi năm dân làng Năm Mẫu đều có tổ chức lễ cúng Phật lớn, gọi là lễ Vô Giá. Dân chúng khắp miền mạn ngược tề tựu lại rất đông. Một hôm, có một bà lão bệnh cùi đến làng dự lễ. Quần áo bà rách rưới, tả tơi. Người bà có mùi hôi hám, rất khó chịu, khiến mọi người phải lánh xa. Bà lão cui hủi này đến nhà nào xin ăn, đều bị xua đuổi, mắng nhiếc. Người ta sợ lây bệnh cùi hủi.Tuy nhiên, có người biết động lòng thương hại. Đó là một người đàn bà goá, ở với con trai. Bà không kinh tởm, kêu bà lão vào nhà cho ăn uống no đủ. Sau đó, bằng lòng cho bà lão ăn mày ngủ nhờ một đêm, ở góc vựa lúa, trong lều. Đến nửa đêm, hai mẹ con bỗng giật mình thức giấc, nghe có tiếng động ầm ầm dữ dội từ phía vựa thóc. Mở cửa vựa thóc ra, không thấy bà lão cùi đâu, mà là một con giao long lớn uốn mình ầm ầm như tiếng sấm. Hai mẹ con kinh hãi trở ra, thao thức, lo sợ, không ngủ được nữa.
 
Sự tích hồ Ba Bể 1
Đến sáng, thấy bà lão đi ra từ vựa thóc và nói “Tôi thật sự không phải là người,tôi là một con giao long, chỉ giả dạng ăn mày để thử lòng từ thiện của tín hữu nam nữ đến làng Năm Mẫu lễ Phật. Tất cả mọi người đều xua đuổi tôi, ngoại trừ 2 mẹ con nhà cô. Họ đều là khẩu Phật tâm xà, sẽ không tránh khỏi hình phạt của bề trên đã giao phó cho tôi thi hành,đó là một trận đại hồng thủy. Hễ khi nào thấy có nước nguồn bắt đầu đổ về đây, thì hai mẹ con hãy mau mau chạy lên đỉnh núi mà tránh kiếp nạn.Còn hai mảnh vỏ trấu này sẽ giúp con cứu người”
Sự tích hồ Ba Bể 2Nói xong, bà lão liền biến mất. Qua ngày hôm sau, trong lúc mọi người đang chen nhau đến dự lễ Phật giữa làng, bỗng nhiên, nước ở đâu cuồn cuộn đổ tới tứ phía, tràn vào thung lũng. Người ta trèo lên mái nhà, trèo lên cây. Nhưng nước cứ dâng tràn đầy lên mãi, ngập cả những nóc nhà và cây cao. Tất cả mọi người đều bị chết ngộp, trừ 2 mẹ con bà goá kia đã chạy vội thoát lên được trên đỉnh núi cao,thả hai mảnh vỏ trấu là hai chiếc thuyền.Mặc mưa to,hai mẹ con chèo thuyền đi cứu người. Trên núi, hai mẹ con dựng lên một gian nhà nhỏ để sinh sống. Nơi này, về sau trở thành một ngôi làng đông đúc, và ngày nay vẫn có tên là làng Năm Mẫu. Cả thung lũng bị nước tràn ngập thì hoá thành 3 cái hồ rộng lớn, mênh mông như bể, nên người ta gọi là Hồ Ba Bể. Nước ở ba hồ lưu thông nhau, nhưng ghe thuyền không thể đi được từ hồ này sang hồ kia, vì có các đập đá lớn ngăn trở. Hồ Ba Bể rộng bát ngát, nước trong xanh như ngọc bích, nổi bật giữa núi rừng hùng vĩ của miền thượng du Bắc Việt.Giữa hồ là một hòn đảo nhỏ,người địa phương gọi đó là Gò Bà Góa.

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2015

Lịch Trình : Hà Nội - Hồ Ba Bể - Hà Nội
Khởi hành : Hàng Ngày
Giá tour : 1.450.000 VNĐ

LỊCH TRÌNH DU LỊCH BA BỂ 2 NGÀY 1 ĐÊM

DU LỊCH BA BỂ 2 NGÀY 1 ĐÊM
NGÀY 1: HÀ NỘI – SÔNG NĂNG – HỒ BA BỂ (Ăn trưa + tối)

07h00: Khởi hành từ Hà Nội đi hồ Ba Bể
09h00: Dừng chân ở làng nghề bánh chưng Bờ Đậu, quý khách nghỉ ngơi, ăn sáng
10h00: Quý khách dừng chân tại đền Đuổm, nơi thờ tự vị thủ lĩnh của người dân tộc Tày – Dương Tự Minh, người cũng được 2 lần vinh dự được làm phò mã dưới thời đại triều Lý.
12h00: Ăn trưa tại nhà hàng ở Chợ Rã (nhà hàng Hải Huyền hoặc Loan Kiệm)
14h00: Dừng chân ở bến Buốc Lốm để lên thuyền máy xuôi dòng sông Năng vào hồ. Xe ô tô sẽ chở đồ của quý khách về nhà dân (homestay) trước.
14h30: Thuyền dừng ở động Puông để quý khách lên thăm động, nơi cư trú của hàng ngàn chú dơi
15h00: Thuyền tiếp tục xuôi dòng sông Năng để đi vào hồ Ba Bể. Thưởng thức đời sống thường nhật của người dân tộc Tày ở 2 bên bờ sông Năng
16h00: Quý khách được chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ của sông nước và núi rừng Ba Bể, cũng như các điểm thăm quan nổi tiếng như đền An Mã, đảo Bà Góa..
17h00: Thuyền dừng ở bến thuyền Pắc Ngòi. Quý khách xuống thuyền và tham gia hoạt động chèo bè tre, chương trình độc đáo nhất của hồ Ba Bể. Quý khách tự do bơi lôi và tham gia chương trình Sun Set Party cây nhà lá vườn ngay tại khu vực này.
18h00: Sau khi kết thức chương trình, quý khách đi bộ 1 km về làng Pắc Ngòi, tận hưởng vẻ đẹp của vườn quốc gia Ba Bể cũng như cánh đồng lúa xanh bát ngát của người dân tộc Tày
18h30: Quý khách nhận phòng, ăn tối và nghỉ đêm tại nhà sàn mang tên Ba Be Lake View. Từ nhà sàn, quý khách có thể phóng tầm mắt rất xa ra hồ Ba Bể, hồ tự nhiên trên núi lớn nhất Việt Nam. Khám phá và thưởng thức những nét văn hóa, nghệ thuật, ẩm thực đặc sắc của người Tày nơi đây.
Quý khách có thể lựa chọn chương trình biểu diễn Hát Then của người Tày (không bao gồm)

DU LỊCH BA BỂ 2 NGÀY

NGÀY 2: BA BỂ  – ĐỘNG HUA MẠ – HÀ NỘI (Ăn sáng + trưa)

07h30: Ăn sáng tại nhà dân.
08h00: Xe đưa quý khách thăm chợ Lèng, 1 phiên chợ nhỏ của người dân tộc Tày (phiên chợ chính vào ngày 3,8,13,18,23,28 âm lịch hàng tháng)
09h00: Xe đưa quý khách đi thăm động Hua Mạ, động lớn và đẹp nhất của núi rừng Ba Bể.
10h30: Xe đưa quý khách quay trở lại bản.
11h00: Quý khách trả phòng và thưởng thức bữa trưa tại đây.
12h00: Xe khởi hành đưa quý khách về Hà Nội. Trên đường có dừng tham quan ở xưởng miến dong Triệu Thị Tá, quý khách có thể mua quà về cho người thân.
18h00: Về đến Hà Nội. Kết thúc tour.

BAO GỒM


Xe du lịch đưa đón theo chương trình
Các bữa ăn như trong lịch trình
Hướng dẫn viên suốt tuyến, nhiệt tình.
Vé thắng cảnh tại các điểm du lịch
Thuyền thăm hồ Ba Bể, dịch vụ chèo bè mảng
Nhà sàn (home-stay) của người Tày
Nước uống 1 chai/1 người/1 ngày
Chương trình Party bao gồm rượu vang, hoa quả, loa đài.. Áp dụng với đoàn trên 20 khách.
Bảo hiểm du lịch mức đền bù tối đa 10.000.000đ/người/vụ

LƯU Ý

Chuyến đi có thể bị thay đổi nếu thời tiết xấu.
Những thứ nên mang theo: Chứng minh thư, áo bơi, mũ nón, kính râm, thuốc xịt chống côn trùng

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

Bạn đang tìm kiếm địa điểm lý tưởng giải nhiệt cho gia đình và người thân trong mùa hè này? Những bãi biển dài cát trắng nắng vàng không còn hấp dẫn với bạn? Tour du lịch Ba Bể - Bản Giốc 3 ngày mà công ty Du Lịch Đặc Trưng Việt cung cấp sẽ là lựa chọn tuyệt vời cho bạn. Tham gia chương trình tour 3 ngày này bạn sẽ được đến 2 địa danh nổi tiếng của Miền Bắc Việt Nam đó là Hồ Ba Bể và Thác Bản Giốc. Chúng tôi cam kết với bạn sau chuyến đi này sẽ thay đổi hoàn toàn cách suy nghĩ của bạn " Giải nhiệt mùa hè đâu chỉ có biển ! "

Ba Bể là một khu vườn quốc gia với sự hòa hợp của núi rừng và sông nước. Một thắng cảnh đẹp ở miền Bắc. Khi ngồi trên thuyền thăm Hồ Ba Bể bạn sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước phong cảnh hữu tình, sự bình lặng của tự nhiên nơi đây cứ ngày ngày trôi qua khiến con người quên đi mọi ưu phiền của cuộc sống. Trong chuyến du thuyền trên Hồ Ba Bể bạn sẽ được thăm quan các địa danh đẹp như : Động Hua Mạ, quần thể du lịch Ao Tiên, đảo Pò Giả Mải (đảo Bà Gúa), động Puông, thác Đầu Đẳng…

Thác Bản Giốc là một trong số những con thác đẹp nhất tại Việt Nam. Bạn sẽ rất thiếu sót khi đã đi du lịch nhiều nơi mà vẫn chưa đến với Thác Bản Giốc. Thác nằm ngay trên đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc thuộc tỉnh Cao Bằng. Đứng dưới chân thác bạn sẽ cảm thấy một không khí sảng khoái và dễ chịu, được tạo bởi màn sương nước đang bay lên. Nhín Thác từ xa chúng ta sẽ thấy sự hùng vĩ và tráng lệ của Thác Bản Giốc.

Hãy nhanh tay đặt Tour du lịch Hồ Ba Bể - Thác Bản Giốc để trải nghiệm những ngày hè tuyệt vời khó quên ngay hôm nay!  

Lịch Trình : Hà Nội - Hồ Ba Bể - Thác Bản Giốc - Lạng Sơn - Hà Nội
Khởi hành : Hàng Tuần 
Giá tour : 2.400.000 VNĐ

Tour ghép Ba Bể - Thác Bản Giốc 3 ngày

NGÀY 1: HÀ NỘI – SÔNG NĂNG – BA BỂ (ăn trưa, tối)

Hà Nội Đi Hồ Ba Bể
07h00: Khởi hành từ Hà Nội đi hồ Ba Bể
10h00: Quý khách dừng chân tại đền Đuổm, nơi thờ tự vị thủ lĩnh của người dân tộc Tày – Dương Tự Minh, người cũng được 2 lần vinh dự được làm phò mã dưới thời đại triều Lý.
12h00: Ăn trưa tại nhà hàng ở Chợ Rã
14h00: Dừng chân ở bến Buốc Lốm để lên thuyền máy xuôi dòng sông Năng vào hồ. Xe ô tô sẽ chở đồ của quý khách về nhà dân (homestay) trước.
14h30: Thuyền dừng ở động Puông để quý khách lên thăm động, nơi cư trú của hàng ngàn chú dơi
15h00: Thuyền tiếp tục xuôi dòng sông Năng để đi vào hồ Ba Bể. Thưởng thức đời sống thường nhật của người dân tộc Tày ở 2 bên bờ sông Năng
16h00: Quý khách được chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ của sông nước và núi rừng Ba Bể, cũng như các điểm thăm quan nổi tiếng như đền An Mã, đảo Bà Góa..
17h00: Thuyền dừng tại đảo Bà Góa, quý khách có thể tự do bơi lội tại hồ Ba Bể hoặc tham gia chương trình chèo bè tre, chương trình độc đáo và duy nhất tại hồ Ba Bể.
18h00: Kết thúc chương trình. Thuyền máy tiếp tục đưa quý khách về bến thuyền của làng Pắc Ngòi. Từ đây quý khách đi bộ 1 km để tận hưởng vẻ đẹp của vườn quốc gia Ba Bể cũng như cánh đồng lúa xanh bát ngát của người dân tộc Tày
18h30: Quý khách nhận phòng, ăn tối và nghỉ đêm tại nhà sàn. Từ nhà sàn, quý khách có thể phóng tầm mắt rất xa ra hồ Ba Bể, hồ tự nhiên trên núi lớn nhất Việt Nam
Quý khách có thể lựa chọn chương trình biểu diễn Hát Then của người Tày (không bao gồm)

NGÀY 2: HỒ BA BỂ – THÁC BẢN GIỐC – CAO BẰNG (ăn sáng, trưa, tối)

 THÁC BẢN GIỐC
06h30: Quý khách ăn sáng tại nhà dân
07h00: Khởi hành đi Cao Bằng. Trên đường đi quý khách có thể dừng chân tham quan làng rèn Phúc Sen của người dân tộc Nùng..
12h00: Quý khách dừng chân ăn trưa tại nhà hàng ở Quảng Uyên.
14h00: Quý khách xuống thăm thác Bản Giốc, một con thác được coi là lớn thứ 4 thế giới nằm giữa biên giới 2 quốc gia (giữa Trung Quốc và Việt Nam)
15h00: Xe tiếp tục đưa quý khách tham quan động Ngườm Ngao, 1 hang động nổi tiếng với vô vàn các măng đá, nhũ đá đẹp mắt.
16h00: Quý khách lên xe để trở về thành phố Cao Bằng
18h00: Xe dừng ở Cao Bằng. Quý khách nhận phòng ở khách sạn.
19h00: Ăn tối tại nhà hàng gần khách sạn. Quý khách tự do thăm quan thành phố về đêm hoặc mua 1 số đặc sản của Cao Bằng như hạt dẻ, thịt trâu khô, xúc xích hun khói…

NGÀY 3: CAO BẰNG – LẠNG SƠN – HÀ NỘI (ăn sáng, trưa)

Đền Mẫu Đồng Đăng
08h00: Khởi hành từ Cao Bằng đi Lạng Sơn.Giữa đường quý khách có thể dừng chân ngắm cảnh trên dòng sông Kỳ Cùng, dòng sông duy nhất chảy ngược sang Trung Quốc và hợp vào sông Bằng Giang trước khi chảy ra biển
12h00: Ăn trưa tại nhà hàng ở Đồng Đăng, Lạng Sơn. Thăm quan chợ biên giới và đền Mẫu Đồng Đăng đặc biệt đông đúc vào các dịp lễ hội đầu năm.
14h00: Quý khách lên xe tiếp tục hành trình về Hà Nội
16h00: Về đến Hà Nội. Kết thúc tour

BAO GỒM

Xe ô tô du lịch đời mới đưa đón theo chương trình
Các bữa ăn như trong lịch trình
Hướng dẫn viên suốt tuyến, nhiệt tình.
Vé thắng cảnh tại các điểm
Nhà sàn (home-stay) của người Tày
Khách sạn tại Cao Bằng (2 người /1 phòng)
Thuyền thăm hồ Ba Bể
Chương trình chèo bè tre
Nước uống 1 chai/1 người/1 ngày
Bảo hiểm du lịch mức đền bù tối đa 10.000.000đ/người/vụ

LƯU Ý

Chuyến đi có thể bị thay đổi nếu thời tiết xấu.
Quý khách đi du lịch Ba Bể nên chủ động chuẩn bị đầy đủ vật dụng cá nhân như: Chứng minh thư, đồ bơi, mũ nón, kính râm, giầy thể thao, keo xịt muỗi, côn trùng, …